Thứ 3, 03 giờ 49 Ngày 18 Tháng 12 Năm 2018
Tin tức & Sự kiện » Tin tức chung »
Số lượt xem: 327
Gửi lúc 09:22' 16/11/2015
Trích Báo cáo Quan hệ Đối tác Việt Nam cập nhật

Báo cáo không chính thức do Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ và Ngân hàng Thế giới cùng thực hiện

Hội nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà Tài trợ cho Việt nam và Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ lần thứ nhất

Tháng 6 năm 2010


1.LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua, Ngân hàng Thế giới đã phụ trách việc chuẩn bị Báo cáo Quan hệ Đối tác cho Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt nam 2 lần mỗi năm với sự giúp đỡ và đóng góp tích cực của rất nhiều đối tác phát triển.

Vào tháng Hai năm nay, Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ (AEF) được chính thức thành lập từ Nhóm đối tác về Hiệu quả viện trợ (PGAE) với sự tham gia của nhiều tổ chức và cơ quan bao gồm các cơ quan Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, cộng đồng tài trợ, các Nhóm đối tác, các tổ chức quần chúng, các hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức phi chính phủ quốc tế. AEF là diễn đàn dành cho đối thoại chính sách liên quan đến hiệu quả viện trợ với mục đích tối đa hóa đóng góp của viện trợ phát triển cho sự phát triển của Việt nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tổ chức JICA của Nhật bản hiện đang là đồng chủ

tọa của AEF. Nhận biết rằng điều phối tốt với các đối tác phát triển là một điểm quan trọng nhằm giảm chi phí giao dịch, tránh trùng lắp và tăng hiệu quả viện trợ, AEF và Ngân hàng Thế giới quyết định sẽ cùng nhau chuẩn bị Báo cáo quan hệ đối tác làm một trong những tài liệu chính cho Hội nghị nhóm tư vấn và các sự kiện của AEF. Đây là báo cáo chung đầu tiên do Ngân hàng Thế giới và AEF chuẩn bị. Báo cáo này có sự đóng góp của nhiều nhóm đối tác giữa chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức

phi chính phủ. Tất cả các nhóm đối tác đ. hợp tác nhằm giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển bền vững thông qua tăng cường hiệu quả viện trợ.

Ông Hồ Quang Minh Vụ trưởng Vụ KTĐN, Bộ KH&ĐT Đồng chủ tọa phía chính phủ của AEF

Ông Motonori Tsuno Trưởng đại diện JICA Vietnam Đồng chủ tọa phía tài trợ của AEF
Bà Victoria Kwakwa Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt nam

2.NHÓM HTRQUC TVTÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG (ISGE)

Báo cáo cập nhật, 6/2010

a.Tổng quan
Từ năm 2008, Nhóm Hỗ trợ quốc tế về Tài nguyên và Môi trường (ISGE) đã
bước sang một giai đoạn mới khi các mục tiêu và cơ cấu tổ chức của Nhóm đã được điều chỉnh để đáp ứng những nhu cầu thay đổi nhanh chóng của công cuộc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nói chung và ngành tài nguyên và môi trường (TNMT) nói riêng. Kết quả của sự điều chỉnh là một Bản thỏa thuận khung (TTK) giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) và Đại sứ quán các nước Đan Mạch, Thụy Điển và Canada tại Việt Nam về cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động của ISGE trong giai đoạn 2008-2010 đã được soạn thảo và k. kết chính thức vào cuối tháng 6 năm 2008.

Theo Thỏa thuận khung, mục tiêu tổng thể của ISGE trong giai đoạn 2008- 2010 là tiếp tục tăng cường hiệu quả hỗ trợ phát triển và các tài trợ khác cho ngành TNMT phù hợp với các chính sách ưu tiên của Chính phủ thông qua quan hệ đối tác và đóng góp tích cực cho quá tr.nh thực hiện các ưu tiên quốc gia về TNMT phù hợp với các nguyên tắc và phương pháp được nêu trong Tuyên bố chung Hà Nội về Hiệu quả Viện trợ.

Để hoàn thành tốt mục tiêu tổng thể và các mục tiêu cụ thể nêu trong kế hoạch công tác ISGE giai đoạn 2008-2010, thay vì hỗ trợ dàn trải cho tất cả các mục tiêu, ISGE sẽ tăng cường tập trung hỗ trợ Bộ TNMT và các cơ quan đơn vị của Bộ vào các mục tiêu sau đây:

Hỗ trợ Bộ TNMT thông qua Diễn đàn đối thoại chính sách về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường giữa các Bộ/ngành, cơ quan, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự;

Hỗ trợ phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho những vấn đề ưu tiên cao nhất đồng thời giảm thiểu sự trùng lắp chồng chéo và đa dạng hoá các nguồn ngân sách hỗ trợ cho các chương trình và hoạt động về TNMT;

Hỗ trợ Bộ TNMT tăng cường năng lực quản l. một cách toàn diện nhằm thúc đẩy các mối liên kết công tác đa ngành về môi trường một cách sâu rộng và giữa các cấp khác nhau của Chính phủ;

Năm 2010 là năm bản lề thực hiện và kết thúc TTK hoạt động ISGE giai đoạn 2008-2010, đồng thời cũng là năm kết thúc giai đoạn khởi động (2009-2010) thực hiện Chương tr.nh mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, chính v. vậy ISGE đã tập trung thực hiện một số hoạt động chính sẽ được đề cập trong báo cáo này.

b.Các hoạt động chính triển khai trong 5 tháng đầu năm 2010
b1. Hỗ trợ Diễn đàn đối thoại chính sách

Trong 5 tháng đầu năm 2010, ISGE đ. thực hiện một số hoạt động về đối thoại chính sách như sau:

Diễn đàn đối thoại chính sách về biến đổi khí hậu

Ngày 27/4/2010, tại Khu du lịch Belvedere, Thị trấn Tam Đảo-Vĩnh Phúc, trong khuôn khổ kế hoạch hoạt động hợp tác đối tác giữa ISGE và Trung tâm Nông Lâm Thế giới (ICRAF), với sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển của Chính phủ Na Uy, ISGE và ICRAF đ. phối hợp với Cục Khí tượng thuỷ văn và môi trường, Bộ TNMT, Tổng Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức Hội

thảo tham vấn quốc gia với chủ đề “ Giảm phát thải từ mọi loại hình sử dụng đất – Phương pháp tiếp cận REDD/REDD+ và Hành động giảm nhẹ phù hợp quốc gia – NAMA”.

Tham dự Hội thảo gồm các đại biểu là đại diện l.nh đạo các cơ quan đơn vị thuộc Bộ TNMT, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các tổ chức quốc tế, các trường đại học và các Hiệp hội.

Diễn đàn đối thoại chính sách về bảo vệ môi trường

Để tăng cường vai trò của đất ngập nước trong việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề biến đổi khí hậu, đồng thời kêu gọi các tổ chức quốc tế tài trợ xây dựng dự án “Tăng cường quản lý và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu”, ngày 26/2/2010, ISGE đã phối hợp với Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn “ Bảo tồn và phát triển bền

vững các vùng đất ngập nước nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu”. Bên cạnh đó, trên cơ sở đề xuất về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác về môi trường do đại biểu các nước thành viên ACMECS đề xuất tại Hội nghị Nhóm công tác ACMECS lần thứ 8 tổ chức tại Bangkok, Thái Lan, tháng 8/2009, ngày

5/2/2010 Bộ TNMT và Bộ Ngoại giao đ. đồng tổ chức Hội thảo khởi động việc thành lập Nhóm công tác hợp tác về môi trường. ISGE đ. tích cực hỗ trợ Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ TNMT tổ chức thành công Hội thảo này.

Diễn đàn đối thoại chính sách về tăng cường năng lực cho ngành TNMT

Từ cuối tháng 3/2010, ISGE đ. tích cực tham gia các hội nghị tham vấn về Đề án “Phát triển đào tạo nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020” do Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ TNMT chủ trương.Bên cạnh đó, trong khuôn khổ kế hoạch công tác ISGE 2010, ISGE cũng đã bắt đầu công tác chuẩn bị để hỗ trợ Vụ Tổ chức cán bộ triển khai một số nghiên cứu chính sách điển h.nh về “Phát triển đào tạo nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi

trường giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020”.

Diễn đàn đối thoại chính sách về biển và hải đảo

Trong quý 2 năm 2010, ISGE đã tích cực phối hợp với Tổng Cục biển và hải đảo/VASI nhằm hoàn thành công tác chuẩn bị để tổ chức Hội thảo “Khởi động Diễn đàn đối thoại chính sách về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biển và hải đảo”, dự kiến Hội thảo sẽ được tổ chức trong tháng 6/2010.

b2. Phiên họp toàn thể ISGE

Ngày 3 tháng 2, 2010, tại Khách sạn Horison, 40 Cát Linh – Hà Nội, Bộ TNMT đã tổ chức phiên họp toàn thể ISGE 2010 với chủ đề “Đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường”, Hội thảo đ. thu hút được sự quan tâm của nhiều đại biểu đại diện các Bộ, ngành, cộng đồng các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân.

Với tinh thần cầu thị và cởi mở, tại phiên họp toàn thể ISGE năm 2010, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rất hoan nghênh và đánh giá cao các . kiến đóng góp của các đại biểu và sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng các nhà tài trợ trong việc hoàn thiện và thực hiện kế hoạch hành động “Đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường”; và các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam sau Hội nghị COP 15.

b3. Các hoạt động đánh giá và giám sát

Cuối tháng 3, 2009, Bộ TNMT đã hoàn thành công tác kiểm toán cho năm tài chính 2009. Đồng thời, kết quả kiểm toán năm tài chính 2009 của ISGE đã được phê duyệt và báo cáo cho các nhà tài trợ chính của ISGE.

b4. Chia sẻ, trao đổi và phổ biến thông tin về các hoạt động liên quan tới ngành TNMT

Bản tin số 18 của ISGE đã được phát hành và gửi cho các tổ chức và cá nhân có liên quan. Các tài liệu và thông tin về ĐTCS của Bộ TNMT và các hoạt động viện trợ ODA đã được cập nhật thường xuyên trên trang Web của ISGE. Danh sách tổng hợp các chương tr.nh ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, huy động tài trợ quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2010-2015 thường xuyên được cập nhật trên trang Web của ISGE. Bên cạnh đó, ISGE đ. tích cực hợp tác với ISG-Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để chia sẻ và trao đổi thông tin, kinh nghiệm về biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, đặc biệt là kinh nghiệm đánh giá, xây dựng và đề xuất mô h.nh hoạt động mới của ISG, giai đoạn sau 2010.

b5. Tăng cường năng lực hoạt động hỗ trợ cho ISGE

Tháng 1/2010, Ban thư ký ISGE đ. tuyển một cán bộ truyền thông để duy trì và đáp ứng nhu cầu công việc của ISGE trong và sau năm 2010.

c. Các hoạt động hợp tác và đối tác

Bên cạnh các hoạt động thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch công tác ISGE 2010, trong 5 tháng đầu năm 2010, Bộ TNMT đã thực hiện một số hoạt động hợp tác, đối tác chính như sau:

- Phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức Hội thảo “Thực thi Luật và Chính sách bảo vệ môi trường” ngày 09 tháng 3 năm 2010 tại Hà Nội và ngày 12 tháng 3 năm 2010 tại thành phố Hồ Chí Minh;

- Trong khuôn khổ dự án “Tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam” do UNDP tài trợ, Bộ TNMT phối hợp với Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường tổ chức Hội thảo "Tăng cường nhận thức cộng đồng về cân bằng giới và biến đổi khí hậu" cho nữ công Công đoàn Khối cơ quan Bộ ngày 06 tháng 3 năm 2010 tại Thành phố Hòa Bình;

- Tổ chức Hội thảo Việt Nam – Hà Lan về “Xây dựng Kế hoạch tổng thể thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho đồng bằng sông Cửu Long vào ngày 29 tháng 3 năm 2010 tại thành phố Cần Thơ;

- Hoàn thiện Danh mục các dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng để vận động tài trợ quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2010-2015;

- Thành lập Ban điều phối Chương tr.nh Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu SPRCC);

- Phối hợp với Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường tổ chức 02 buổi tập huấn về công tác hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế cho các tổ chức đầu mối hợp tác quốc tế của các đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ;

- Phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Văn ph.ng Chính phủ, Bộ TNMT và Bộ Ngoại giao chuẩn bị chương trình, nội dung Diễn đàn ASEM về biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng và Diễn đàn Đông Á về biến đổi khí hậu;

- Tổ chức Hội thảo tổng kết Dự án “Tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối quốc gia về biến đổi khí hậu”/CD4-CCFP (ngày 28/4/2010);

d. Phương hướng kế hoạch công tác ISGE 6 tháng cuối năm 2010
Bên cạnh các hoạt động thuờng xuyên, dự kiến trong 6 tháng cuối năm 2010, ISGE sẽ triển khai thực hiện một số hoạt động chính sau:

- Phối hợp với Tổng cục Biển và Hải đảo (VASI) và các đơn vị liên quan trực thuộc Bộ TNMT đẩy mạnh các hoạt động ĐTCS trong lĩnh vực biển và hải đảo;

- Tổ chức hội thảo tổng kết kinh nghiệm trong quá tr.nh khởi động Chương trình mục tiêu quốc gia về Biến đổi khí hậu (NTPRCC);

- Hỗ trợ Cục Quản l. Tài nguyên nước (DWRC) và các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo tham vấn về sử dụng nguồn nước ở các vùng biên giới;

- Hỗ trợ Tổng cục Quản l. Đất đai (GDLA) khởi động diễn đàn ĐTCS về quản lý đất đai với chủ đề "Qui hoạch quốc gia về sử dụng đất từ năm 2010 đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030";

- Hỗ trợ Vụ Tổ chức cán bộ tổ chức hội thảo tham vấn về "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngành TNMT, giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020" trên cơ sở Nghị quyết số 27 về "Đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường";

- Hỗ trợ tham vấn cho Vụ Tổ chức cán bộ tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng kế hoạch chiến lược về đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ của Bộ TNMT giai đoạn 2011-2015 và tầm nh.n đến năm 2020 dựa trên cơ sở Nghị quyết số 27 của Bộ TNMT về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường;

- Hỗ trợ Vụ Kế hoạch và Viện Chiến lược chính sách TNMT (ISPONRE) tổng kết kế hoạch 5 năm 2006-2010 và xác định những ưu tiên hàng đầu cho kế hoạch 5 năm của ngành TNMT giai đoạn 2011-2015;

- Hỗ trợ và tổ chức một số hội thảo xây dựng chương tr.nh và kế hoạch của ngành TNMT;

- Hỗ trợ các cơ quan đơn vị liên quan tiến hành một số nghiên cứu về đối thoại chính sách ngành TNMT, như chi trả các dịch vụ môi trường, giảm phát thải từ việc phá rừng và suy thoái rừng, thích ứng với BĐKH và các vấn đề khác;

- Hỗ trợ các Viện của Bộ TNMT xây dựng, cập nhật danh mục quốc gia về các chương trình ODA kể cả cơ chế tài chính cho các giai đoạn ngắn hạn và dài hạn của ngành TNMT, ưu tiên các chương trình cần huy động tài trợ;

- Xây dựng tư liệu về các kịch bản BĐKH và kế hoạch hành động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu;

- Tổ chức phiên họp toàn thể thường niên của Ban điều hành nhóm ISGE với sự tham dự của các đối tác, các nhà tài trợ và các bên liên quan;

- Hỗ trợ Bộ TNMT tổ chức hội nghị tập huấn về quản l. ODA cho cán bộ của Bộ TNMT đang làm công tác quản lý các dự án ODA;

- Tiến hành đánh giá toàn bộ các hoạt động của ISGE giai đoạn 2008-2010 và đề xuất mô hình hoạt động mới của ISGE sau năm 2010;

- Tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Văn ph.ng Chính phủ, Bộ TNMT và Bộ Ngoại giao chuẩn bị chương trình, nội dung Diễn đàn ASEM về biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng và Diễn đàn Đông Á về biến đổi khí hậu;

NHÓM ĐỐI TÁC VỀ CẤP NƯỚC VÀ VỆ SINH NÔNG THÔN

Báo cáo cập nhật, 6/2010

Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn được thành lập năm 2006 theo Quyết định 519-TTg-HTQT của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Vào ngày 15 tháng 05 năm 2006, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và 14 đối tác phát triển quốc tế k. Biên bản ghi nhớ triển khai Quyết định. Hiện tại, có 19 thành viên đối tác phát triển quốc tế. Bỉ là thành viên mới nhất tham gia từ năm 2009.

Mục đích của Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn là tạo ra một cơ chế hợp tác để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực cho cấp nước và vệ sinh nông thôn (RWSS) bằng cách phối hợp và hài hoà các chính sách của Chính phủ Việt Nam, các chương trình Mục tiêu Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn và các chương trình khác. Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn hoạt động nhằm thúc đẩy việc hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về RWSS nhằm giảm nghèo nông thôn và nâng cao đời sống của người dân nông thôn thông qua việc tiếp cận rộng rãi, bền vững và hợp lý các dịch vụ cấp nước và vệ sinh nông thôn.

1. Trong vòng 12 tháng qua, Nhóm đối tác đa đạt được những kết quả gì trong lĩnh vực mà mình hoạt động?

Trong vòng 12 tháng qua, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn đ.

tích cực cộng tác với nhiều đối tác và các bên liên quan bao gồm Chính phủ Việt Nam

(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Tài

nguyên môi trường và Bộ Xây dựng), các tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ và các đối

tác phát triển song và đa phương. Các hoạt động chính của Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp

nước và Vệ sinh nông thôn là (i) phối hợp tổ chức đối thoại chính sách ngành nghề, (ii)

thúc đẩy sự liên kết và các quan hệ đối tác phát triển và (iii) tuyên truyền và chia sẻ thông

tin.

Các hoạt động trong 12 tháng qua cụ thể như sau:

Đối thoại chính sách

- Điều phối Nhóm hoạt động về vệ sinh nông thôn; một nhóm hoạt động quốc gia phụ trách việc nâng cao số lượng nhà vệ sinh công cộng và nhà vệ sinh trong các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam (được thành lập vào tháng 10/2009).

- Tổ chức một chuyến thăm quan học hỏi kinh nghiệm các mô h.nh vệ sinh thành công ở Indonesia và Bangladesh và nghiên cứu khả năng áp dụng tại Việt Nam (10/2009).

- Tổ chức hai hội thảo tuyên truyền về vệ sinh nông thôn vào tháng 03 và tháng 09/2009 để lấy ý kiến về nghiên cứu tính bền vững của cách tiếp cận này.

- Tổ chức một hội thảo về Thông tin, giáo dục và tuyên truyền thay đổi hành vi (IEC/BCC) về nước, vệ sinh và tăng cường vệ sinh vào tháng 08/2009.

- Tổ chức một loạt các sự kiện khác (một hội thảo vào giữa năm 2009 và tiếp theo là một cuộc họp bàn tròn vào tháng 09/2009) để xem xét tính bền vững của việc cung cấp nước và các dịch vụ vệ sinh, thúc đẩy hợp tác tư công (PPP) và thảo luận việc sử dụng các nguồn hỗ trợ dựa trên kết quả (OBA) nhằm nâng cao tính bền vững và thúc đẩy đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này.

- Tổ chức một vào hội thảo và nghiên cứu về biến đổi khí hậu và mối liên quan đến RWSS vào tháng 10/2009.

- Tổ chức hai hội thảo vào tháng 01 và 05/2010 nghiên cứu cách tiếp cận của các tổ chức phi chính phủ đối với RWSS tại Việt Nam bao gồm các kinh nghiệm đúc kết của các tổ chức này, tiềm năng nhân rộng những mô h.nh thành công và cách thức tốt nhất để kết hợp các cách tiếp cận vào Chương tr.nh mục tiêu Quốc gia.

- Tổ chức Hội thảo về các vấn đề nổi cộm trong RWSS tại Việt Nam và Các khả năng công nghệ chi phí thấp cho RWSS vào tháng 03/2009.

Đối tác và liên kết

- Thu thập và sắp xếp các thông tin về các dự án đầu tư trong lĩnh vực RWSS và phát triển một trang web cung cấp thông tin này.

Chia sẻ thông tin

- Trong vòng 12 tháng qua, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn rất tích cực trong việc chia sẻ thông tin về lĩnh vực hoạt động thông qua các cơ chế như Bản tin tóm tắt hàng tháng, trang web Đối tác và sự hợp tác từ nhóm làm việc WASH của các tổ phi chính phủ.

- Tổ chức một hội thảo để tuyên truyền và chia sẻ thông tin về các trang thiết bị vệ sinh và cung cấp nước phù hợp cho trẻ em tàn tật tại các Trung tâm bảo trợ x. hội và các trường học nội trú.

Hoạt động thường xuyên của Ban điều phối

- Ban Điều phối hoạt động tốt trong 12 tháng qua. Cuộc họp thường niên của Ban Chỉ đạo đối tác được tổ chức vào tháng 01/2010. Tại cuộc họp, Báo cáo tổng kết năm 2009 và kế hoạch hoạt động năm 2010 đ. được thông qua.

2. Nhóm đối tác đa có những đóng góp gì để thúc đẩy chương trình phát triển quốc gia ở trung ương và địa phương trong vòng 12 tháng qua?

Chương trình mục tiêu quốc gia (NTP) là mô h.nh chính mà thông qua đó Chính phủ Việt Nam phối hợp với các bên liên quan để nâng cao đời sống cho người dân nông thôn bằng việc thúc đẩy khả năng tiếp cận cấp nước và vệ sinh nông thôn. NTP là cơ chế mà theo đó Chiến lược RWSS quốc gia, Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện của Việt Nam (CPRGS) và Mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) được xuyên suốt để cung cấp nước và vệ sinh cho vùng nông thôn Việt Nam. NTP đang trong giai đoạn hai, từ 2006 đến 2010 (NTPII).

Trong vòng 12 tháng, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn đã đóng góp cho chương trình phát triển và việc hoàn thành các mục tiêu của NTP bằng cách thúc đẩy sự hợp tác ngành nghề và sự đóng góp của khá nhiều các bên liên quan và đối tác phát triển. Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn cũng đóng vai trò chủ đạo xúc tác các mối liên hệ và quan hệ đối tác, chia sẻ thông tin và các bài học kinh nghiệm trong ngành.

Năm 2010 là năm cuối cùng của NTP II và v. thế kế hoạch NTP tiếp theo đang được triển khai. Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn đang đóng góp cho kế hoạch này bằng cách quy tụ các bên liên quan vào các hoạt động đối thoại chính sách.

Đặc biệt, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn đang hỗ trợ các cuộc thảo luận về đóng góp của các tổ chức phi chính phủ vào lĩnh vực này, làm cách nào để hài hoà hoạt động của các tổ chức phi chính phủ vào chương tr.nh của Chính phủ Việt Nam và sáng kiến nào của các tổ chức phi chính phủ có tiềm năng nhân rộng được đưa vào NTP tiếp theo. Trong v.ng 12 tháng qua, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn cũng tích cực tham gia vào việc tổ chức, ghi nhận và chia sẻ thông tin về một loạt cách tiếp cận sáng tạo của các tổ chức phi chính phủ ví dụ như Chương trình Marketing về vệ sinh và Vệ sinh dựa vào cộng đồng nhằm thúc đẩy và nếu phù hợp th.

nhân rộng những cách tiếp cận này.

2. Trong vòng 12 tháng tới, nhóm đối tác sẽ triển khai hoạt động cụ thể nào?

Sau khi tham vấn với các đối tác phát triển, nhóm Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn xây dựng một kế hoạch hoạt động hằng năm. Kế hoạch này được thông qua tại cuộc họp thường kỳ của Ban chỉ đạo đối tác. Thời gian còn lại của 2010 và đầu năm 2011, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn sẽ triển khai các hoạt động cụ thể sau:

Đối thoại chính sách

- Tiếp tục điều phối các cuộc họp của Nhóm làm việc về Vệ sinh nông thôn, điều phối việc triển khai các hoạt động được ưu tiên của Nhóm, góp . phản hồi và chia sẻ thông tin về các hoạt động cho các bên liên quan.

- Chia sẻ kết quả và hỗ trợ việc nhân rộng những mô hình vệ sinh đang được thử nghiệm ví dụ nhưng mô h.nh Vệ sinh hoàn toàn dựa vào cộng đồng, Câu lạc bộ y tế cộng đồng và Chương trình Marketing vệ sinh.

- Chia sẻ bài học kinh nghiệm về các cách tiếp cận của các tổ chức phi chính phủ đối với lĩnh vực RWSS tại Việt Nam và thúc đẩy việc hài hoà các hoạt động của các tổ chức này vào chương trình chung của quốc gia.

- Hỗ trợ việc đánh giá NTPII và xây dựng nội dung của NTP III, và chia sẻ thông tin với các đối tác phát triển.

- Phối hợp để tập hợp, ghi lại và thúc đẩy các mô h.nh chi vệ sinh và cung cấp nước chi phí thấp và chia sẻ thông tin với các bên liên quan.

- Chia sẻ các bài học kinh nghiệm trong việc triển khai bộ chỉ số giám sát và đánh giá và hỗ trợ việc tuyển chọn các trợ giúp kỹ thuật để triển khai.

Đối tác và liên kết

- Hỗ trợ việc t.m kiếm, đẩy mạnh và nhân rộng mô h.nh Hợp tác công tư và chia sẻ thông tin và bài học liên quan với các đối tác phát triển và các bên liên quan.

- Tuyên truyền và thúc đẩy Quyết định số 131 về cơ chế khuyến khích tăng đầu tư, quản lý và khai thác các trang thiết bị cung cấp nước nông thôn.

- Hỗ trợ việc đánh giá tổng thể ngành RWSS, báo cáo tiến độ và chia sẻ kết quả với ngành liên quan.

- Cập nhật Tài liệu tham khảo ngành nước và vệ sinh.

- Duy trì và cập nhật bản đồ thông tin về dự án đầu tư và các tỉnh thành được hỗ trợ trong lĩnh vực RWSS để chia sẻ thông tin dựa vào internet được hiệu quả hơn.

Tuyên truyền và chia sẻ thông tin

- Chia sẻ thông tin với các đối tác thông qua Bản tin vắn Nhóm Quan hệ đối tác về cấp nước và Vệ sinh nông thôn hàng tháng, nâng cấp và cập nhật trang thông tin Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn và các hoạt động của nhóm Phi chính phủ WASH.

- Cung cấp và chia sẻ thông tin với các đối tác và các bên liên quan về việc triển khai bộ chỉ số Giám sát và đánh giá, việc cập nhật Chiến lược RWSS quốc gia, việc xây dựng Chiến lược ngành thống nhất về vệ sinh và Kế hoạch hoạt động (U3SAP), ưu tiên nghiên cứu ngành, tiến độ của Chương tr.nh Đối tác nước và vệ sinh cho khu vực Mekong (SAWAP) và NTP II.

Hoạt động thường xuyên của Ban điều phối Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn

- Phối hợp các cuộc gặp thường xuyên của Ban chỉ đạo Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn, và chuẩn bị báo cáo (báo cáo 6 tháng, báo cáo hàng năm và báo cáo tài chính.

- Hỗ trợ việc đánh giá 5 năm chương tr.nh Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn và có thể xây dựng kế hoạch gia hạn.

3. Hoạt động/Kết quả nào mà Nhóm đối tác đóng góp cho vệc tăng cường hiệu quả và hài hoà hoá các nguồn hỗ trợ, bao gồm cả việc hướng hỗ trợ của các nhà tài trợ vào chiến lược phát triển ngành và Chương trình phát triển kinh tế xã hội (SEDP)?

Định hướng hỗ trợ của các nhà tài trợ (và các đối tác khác) và khuyến khích hiệu quả viện trợ thông qua việc hài hoà hoá các chiến lược là một phần không thể tách rời trong các hoạt động của Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn. Thông qua đối thoại và chia sẻ thông tin giữa Chính phủ Việt Nam, các nhà tài trợ và các tổ chức Phi chính phủ, Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn thúc đẩy việc hướng các nguồn hỗ trợ phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu chung xuyên suốt NTP, CPRSG, SEDP và MDG.

Một vài thành tựu trong mảng này bao gồm:

- Một loạt các hội thảo đã được Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn tổ chức với hỗ trợ của AusAID để nghiên cứu cách tiếp cận của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam. Hội thảo đầu tiên giới thiệu các cách tiếp cận chính của các tổ chức Phi chính phủ và thảo luận các bài học mà có thể liên quan và áp dụng được trong NTP II. Hội thảo thứ hai tập trung vào việc làm thế nào để

các tổ chức Phi chính phủ có thể hài hoà hoá và gắn kết cách tiếp cận của họ với NTP và nhân rộng những mô hình thành công. Chính phủ Việt Nam, các nhà tài trợ, các tổ chức Phi chính phủ và các bên liên quan khác đều tham dự cả hai hội thảo. Có thể tổ chức một số hội thảo khác về mảng này vào năm 2010.

- Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn tiếp tục cung cấp thông tin và các tư liệu từ các bên liên quan để soạn thảo/cập nhật một số chương trình chính và các tài liệu chiến lược ví dụ như đề cương NTP III, cập nhật Chiến lược quốc gia RWSS và U3SAP.

4. Khó khăn và thách thức nào mà Nhóm đối tác gặp phải trong việc nâng cao hiệu quả tài trợ và các đề xuất để vượt qua các khó khăn đó?

Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn gặp một số khó khăn về năng lực, đặc biệt là vấn đề nhân sự. V. là một đơn vị nhỏ nên Nhóm không thể triển khai một vài hoạt động do thiếu thời gian và thiếu cán bộ có khả năng. Năng lực của Ban chỉ đạo Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn có thể được nâng cao thông qua các chương tr.nh đào tạo và giúp đỡ qua kênh hỗ trợ kỹ thuật.

Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn và hoạt động của Ban điều phối do một số nhà tài trợ chính hỗ trợ kinh phí. Tuy nhiên các hoạt động này c.n có thể hiệu quả hơn nữa nếu có mô h.nh tài chính linh hoạt hơn. Nếu hỗ trợ tài chính được đảm bảo dài hơn 12 tháng thông thường của Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn th. nhóm có thể tích cực hơn trong việc lên kế hoạch hoạt động của m.nh.

Việc hợp tác với rất nhiều các bên liên quan khác nhau cũng là một thách thức của nhóm.

Mô h.nh phối hợp này mang lại nhiều lợi ích cho ngành nhưng cũng gặp không ít thách thức đặc biệt khi các tổ chức/đơn vị khác có những ưu tiên riêng và các áp lực cạnh tranh của họ.

Hiệu quả tài trợ có thể được nâng cao thông qua việc hợp tác và chia sẻ thông tin chặt chẽ hơn giữa Nhóm Quan hệ đối tác về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn và các đối tác ngành chủ chốt của Chính phủ (ví dụ như Trung tâm quốc gia cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, Văn ph.ng thường trực NTP, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo), cũng như các nhà tài trợ. Thông tin về kế hoạch và hoạt động nên được chia sẻ công khai để tránh sự trùng lặp hoặc giải quyết được hợp l. các nguồn tài trợ (có thể tại các cuộc gặp 6 tháng của Ban chỉ đạo Đối tác)


Các tin mới



Các tin khác



CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG - CEEN
Địa chỉ: 305 Đường Cầu Giấy - Phường Dịch Vọng - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Văn phòng giao dịch: P1, Tầng 15, tòa nhà B3.7, HACINCO đường Hoàng Đạo Thúy, Q Thanh Xuân, TP Hà Nội
Tel: 04.62779955 | Fax: 04.62779955
qC BEN TRAI
qC BEN phai