Thứ 3, 03 giờ 48 Ngày 18 Tháng 12 Năm 2018
Tin tức & Sự kiện » Tin tức chung »
Số lượt xem: 800
Gửi lúc 09:23' 16/11/2015
Quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung nông thôn thách thức và giải pháp

Mục tiêu của chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 trong Quyết định 277/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11 tháng 12 năm 2006 đã xác đinh: đến hết năm 2010, 85% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 50% đạt tiêu chuẩn 09/QĐ-BYT. Phấn đấu đạt mục tiêu trên đã khó, song để đảm bảo bền vững còn khó khăn hơn nhiều. Tình trạng chất lượng xây dựng nghèo nàn, thu không đủ chi, người lao động thu nhập quá thấp, công trình xuống cấp nhanh... là những thách thức cần được giải quyết.

1. Hiện trạng quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung nông thôn.
Theo số liệu thống kê của các tỉnh thành trên cả nước, đến cuối năm 2007 đã có 70% dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh từ các công trình cấp nước tập trung và nhỏ lẻ. Trong đó tỷ lệ cấp nước từ công trình tập trung tăng dần từ 1,25% năm 1992; lên 1,80% năm 1998; 5,88% năm 2002 và khảo sát ở 20 tỉnh đã lên 18% năm 2007. Với tình hình nguồn nước ngày càng cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm, chắc chắn các công trình cấp nước tập trung sẽ tăng nhanh. Công trình cấp nước tập trung với công nghệ tiên tiến, quy mô liên xã đã xuất hiện ở nhiều vùng nông thôn trong những năm gần đây.
Việc tăng trưởng nhanh của các công trình cấp nước tập trung là cần thiết, vì những vùng dân cư tập trung đông, vùng khó khăn nguồn nước... Công trình cấp nước tập trung là giải pháp kinh tế và kỹ thuật. Tuy nhiên, khảo sát tại 4.803 công trình cấp nước tập trung ở 39 tỉnh, có: 2.025 công trình hoạt động tốt (chiếm 42%), 1.566 công trình hoạt động trung bình (chiếm 33%), 991 công trình hoạt động kém (chiếm 20,5% và 221 công trình không hoạt động (chiếm 4,5%). Nhiều công trình hiện nay được đánh giá đang hoạt động tốt hoặc trung bình cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững.

2. Thách thức và nguyên nhân.
a.Đặc điểm của công trình cấp nước tập trung nông thôn.
Công trình cấp nước tập trung nông thôn, do những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường nên có những đặc điểm khác với khu vực đô thị. Trước hết là xuất đầu tư cao do người dân nông thôn sống phân tán, địa hình phức tạp và kéo theo nó là quy mô hệ thống không kinh tế, tỷ lệ thất thóat lớn, chi phí quản lý vận hành cao.
Cấp nước tập trung nông thôn chịu sự cạnh tranh với công trình cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình như giếng đào, giếng khoan hoặc các nguồn nước mưa, nước sông, ao, hồ...dẫn đến lượng nước tiêu thụ bình quân đầu người rất nhỏ. Ngay trong mùa khô nhiều hộ chỉ dùng dưới 3m¬3. Trong mùa mưa nhiều gia đình thậm chí hoàn toàn không dùng nước từ công trình cấp nước. Trong khi cấp nước đô thị cơ bản đã chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh thì cấp nước nông thôn vẫn nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước cả trong đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Một đặc điểm hết sức quan trọng là người dân nông thôn có thu nhập thấp, đời sống khó khăn, khả năng chi trả hạn chế.
Những đặc điểm trên ảnh hưởng không chỉ quá trình xây dựng mà còn đến hoạt động quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung nông thôn.
b. Nhận thức chưa đầy đủ về quản lý vận hành.
Trong nhận thức của nhiều đối tượng hoạt động trong lĩnh vực cấp nước nông thôn vẫn chỉ coi trọng công tác đầu tư xây dựng các công trình cấp nước. Dường như sau khi xây dựng xong công trình, người dân nông thôn có nguồn nước sạch coi như mục đích đã đạt được. Nhận thức như vậy là chưa đầy đủ. Tất nhiên, để xây dựng được hệ thống công trình nước sạch là rất quan trọng, rất khó khăn, rất đáng tự hào nhưng nếu dừng ở đó, chỉ mới có phương tiện chứ chưa đạt mục đích. Mục đích chỉ đạt được khi hệ thống cấp nước hoạt động hiệu quả, bền vững, người dân nông thôn được sử dụng nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày, nghĩa là: công tác quản lý vận hành phải tốt, hệ thống được bảo dưỡng và tu sửa kịp thời, đúng quy định, cơ chế tài chính lành mạnh, người lao động có thu nhập tương đương với lao động ở các đơn vị dịch vụ công khác trên địa bàn.

c. Mô hình tổ chức và tính chuyên nghiệp.
Kết quả khảo sát 39 tỉnh năm 2007 của Trung tâm quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho thấy, hiện nay đang có 6 mô hình tổ chức quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung, tỷ lệ cụ thể như sau :
- Trung tâm nước sinh hoạt và VSMT tỉnh: 45%
- UBND xã : 25%
- Tổ hợp tác cộng đồng : 22,5%
- Hợp tác xã : 3,5%
- Doanh nghiệp Nhà nước : 0,8%
- Tư nhân : 3,2%
Do điều kiện địa hình, nguồn nước và kinh tế xã hội không thể có một mô hình chung, song trong 6 mô hình hiện hữu tính chuyên nghiệp của các mô hình tổ hợp tác cộng đồng và nhất là UBND xã không cao. Tỉnh Tiền Giang thực hiện Chương trình NS&VSMTNT rất tích cực, nhiều sáng tạo. Đến năm 2007, Tiền Giang có 86,8% số dân nông thôn tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 67% từ trạm cấp nước tập trung. Để quản lý 599 trạm cấp nước, Tiền Giang có 319 Tổ hợp tác cộng đồng, 39 Hợp tác xã và 60 doanh nghiệp tư nhân. Do hoạt động kém hiệu quả nên tỉnh này đang có xu hướng chuyển đổi từ mô hình Tổ hợp tác cộng đồng, UBND xã quản lý sang công ty cổ phần hoặc tư nhân quản lý, như ở Bình Trung (Gò Công Tây), An Thạnh Thuỷ (Chợ Gạo)...
d. Chất lượng công trình xây dựng.
Chất lượng xây dựng của hệ thống cấp nước tập trung ảnh hưởng lớn đến tính bền vững, chi phí vận hành bảo dưỡng và chất lượng dịch vụ. Chất lượng công trình kém có thể do quy hoạch sơ sài, không cập nhật; công tác thiết kế, công nghệ lựa chọn chưa phù hợp hoặc do công tác thi công, giám sát chất lượng xây dựng kém. Cũng có tình trạng hệ thống xây dựng không đồng bộ, có đầu mối nhưng thiếu mạng ống dẫn hoặc công trình đầu mối chất lượng tốt nhưng mạng đường ống chất lượng kém. Đã có những công trình xây dựng xong không hoạt động được do chất lượng xây dựng không đạt yêu cầu
e. Cơ chế tài chính bất cập.
Khó khăn lớn nhất trong quản lý vận hành công trình cấp nước tập trung là cơ chế tài chính bất cập. Giá nước không được tính đúng tính đủ chi phí hợp lý, phổ biến chỉ đảm bảo cho chi phí năng lượng, tiền lương và duy tu bảo dưỡng thường xuyên. Ngay cả sửa chữa nhỏ cũng chưa được tính đủ trong khi còn phải khấu hao, sửa chữa lớn và lợi nhuận tối thiểu. Với cách tính giá nước như vậy, tình trạng thu không đủ chi là phổ biến, lại không có nguồn hỗ trợ cụ thể nên việc bảo dưỡng, sửa chữa không đúng tiêu chuẩn quy định, người lao động thu nhập thấp không phấn khởi, công trình xuống cấp nhanh, thất thoát lớn, chất lượng dịch vụ kém thậm chí nhiều công trình không hoạt động. Với cơ chế tài chính như vậy, một vòng xoáy không cưỡng được sẽ xảy ra khi người sử dụng dịch vụ không hài lòng, việc thu tiền nước với giá thấp cũng rất khó khăn, dịch vụ ngày càng thu hẹp, chất lượng dịch vụ ngày càng xấu đi, hệ thống nhanh chóng bị hư hỏng, khi đó lại đòi hỏi phải đầu tư khôi phục với kinh phí không kém đầu tư ban đầu.





3.Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vận hành.
Để quản lý vận hành hiệu quả, bền vững công trình cấp nước tập trung nông thôn cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

a. Tăng cường công tác truyền thông.
Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về nước sạch nói chung, về quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung nói riêng để mọi người từ nhà quản lý đến cộng đồng đều thống nhất về tầm quan trọng và đặt đúng vị trí của công tác quản lý vận hành ngay trong nhận thức. Trước khi xây dựng hệ thống nước sạch phải thông tin đầy đủ cho cộng đồng về mô hình tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, giá nước, quyền và trách nhiệm của đơn vị cấp nước và người sử dụng nước... tạo sự đồng thuận cao và sẵn sàng chi trả tiền nước theo giá đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

b. Lựa chọn mô hình phù hợp.
Với các hệ thống xây dựng mới, trước khi xây dựng phải cân nhắc lựa chọn mô hình tổ chức quản lý, vận hành phù hợp. Một số nơi gần đây đã sử dụng mô hình Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty tư nhân với phương thức đối tác công tư cả trong đầu tư xây dựng và sau đó quản lý vận hành mang lại hiệu quả bước đầu đáng khích lệ.
Với các hệ thống đang hoạt động nhưng không hiệu quả, không bền vững, cần rà soát lại mô hình, chuyển đổi sang mô hình phù hợp cùng với việc điều chỉnh lại cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng.
Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý vận hành phải đảm bảo tính chuyên nghiệp, lực lượng phải được đào tạo, có chuyên môn nghiệp vụ đủ năng lực quản lý vận hành theo đúng các tiêu chuẩn hiện hành.

c.Thống nhất xây dựng và quản lý vận hành vào một chủ thể.
Sau khi có dự án công trình cấp nước tập trung được phê duyệt phải xác định đơn vị quản lý vận hành và giao cho đơn vị đó làm chủ đầu tư xây dựng công trình.Tránh tình trạng chủ đầu tư và chủ quản lý vận hành là hai đơn vị độc lập với nhau.Với phương án này, chất lượng xây dựng sẽ tốt hơn do được xác định là chủ quản lý từ đầu nên quan tâm đảm bảo chất lượng xây dựng công trình để giảm thiểu chi phí vận hành và bảo dưỡng và kéo dài tuổi thọ công trình. Việc thống nhất chủ đầu tư, chủ sở hữu và chủ quản lý trong một pháp nhân chịu trách nhiệm xuyên suốt từ quá trình đầu tư, vận hành khai thác, thu hồi vốn đầu tư và phát triển lâu dài hệ thống nước sạch nông thôn không chỉ nâng cao chất lượng xây dựng mà công tác duy tu bảo trì được quan tâm đúng mức, hư hỏng được sửa chữa kịp thời vừa giảm chi phí vừa giảm tỷ lệ thất thoát.

d. Chính sách giá nước phù hợp.
Giá thành nước sạch phải được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí hợp lý trong quá
trình sản xuất, phân phối nước sạch, thuế và lợi nhuận bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước được Uỷ ban nhân dân tỉnh chấp thuận.Giá bán nước sạch được xác định phù hợp với đặc điểm nguồn nước, điều kiện kinh tế - xã hội từng vùng, từng địa phương, từng khu vực do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định trong khung giá do Bộ Tài chính ban hành đảm bảo người dân nông thôn có thể chi trả..
Trường hợp giá bán nước sạch được quyết định thấp hơn giá thành nước sạch đã được tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, Ủy ban nhân dân tỉnh phải sử dụng ngân sách địa phương trợ giá, cấp bù phần chênh lệch cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ này. Cũng cần xem xét việc thu tối thiểu 3-4m3/ tháng đối với những hộ sử dụng ít hơn để bù đắp các chi phí bảo dưỡng, quản lý, ghi thu..và cũng là khuyến khích người sử dụng dùng nước hợp vệ sinh tối thiểu cho ăn uống.
Với nguyên tắc giá thành dịch vụ được tính đúng tính đủ các chi phí hợp lý, thuế và lợi nhuận định mức, trong đó bao gồm cả khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn là điều kiện để doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng. Khi nguồn vốn của đơn vị quản lý vận hành được giữ vững cũng có nghĩa nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ cho chương trình mục tiêu quốc gia được bảo toàn.


Nước sạch về bản

Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương trình hết sức nhân văn, được Nhà nước quan tâm và nhân dân đồng tình ủng hộ


Các tin mới



Các tin khác



CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG - CEEN
Địa chỉ: 305 Đường Cầu Giấy - Phường Dịch Vọng - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Văn phòng giao dịch: P1, Tầng 15, tòa nhà B3.7, HACINCO đường Hoàng Đạo Thúy, Q Thanh Xuân, TP Hà Nội
Tel: 04.62779955 | Fax: 04.62779955
qC BEN TRAI
qC BEN phai